2014/10/06

読解 14 コツ

コツ1: 「下線部の理由や内容を問う問題は、直前直後にヒントがある。」

答えのヒントが下線部の遠くにあることは、まれです。ほとんどの場合、「直前直後」を読めば答えが導けます。「直前直後」をよく読んでみてくださいね。

コツ2 :「否定疑問文(「~ではないだろうか。」)が出たら要チェック。」


 Aではないだろうか。」は「私はAだと思う。」という意味で、自分の意見を控え目に(ひかえめ)に言う表現です。

 例文 :

 彼は笑っているけれど、本当はとても悲しいのではないだろうか。
 → (私は、)彼はとても悲しんでいると思う。

この控えめな表現にこそ、筆者の本音・主張があります。もちろん、試験問題にもよく絡んできます。

コツ3 : 「逆接の接続詞「しかし」が出たら、そのあとの文章は超重用。」

なぜ、筆者はあえて「しかし」を使って、文章の流れを変えなければならないのでしょうか。
なぜなら、流れを変えてでも述べなければならないこと、すなわち、筆者の主張・意見があるからです。
だから、「しかし」の後の文章は、超重要なのです。

コツ4 : 「読む前にまず出典先を見ろ。文章のテーマがわかり、理解度がアップする。」 

文章を読むとき、そのテーマを知らないで読むのとテーマを知って読むのと、どちらが理解しやすいでしょうか。
もちろん、テーマを知って読む方が理解しやすいに決まっていますね。
文章を読む前に、出典先を読めば、問題文を読む前に大体のテーマがわかります。
出典先を読むのは、ほんの1秒か2秒。それだけで、理解度が全然違います。

コツ5: 「読解の目的、それは筆者の主張・意見を正確に読み取るということ。」 

読解の目的とは、まさにこれに尽きます。
だから、筆者の主張・意見の部分は必ずチェックしてください。
特に、「~はずだ」「~に違いない」「~ではないだろうか」「~と思う」「~と考える/考えられる」「~に他ならない」といった文末表現を含む文章は重要です。


コツ6: 「『~とは~。』定義を表す文章があったら、要チェック。」 

言葉の定義は、筆者の思索(しさく)やその後の論理展開の出発点です。
それだけに、文章を書く人も、言葉の定義に十分注意を払います。
辞書的な定義もあれば、筆者なりの定義もあります。もちろんどちらも重要です。
問題を解くときも、大きなヒントを与えてくれます。

コツ7: 「比喩表現が出てきたら、その内容を解説している部分をチェックせよ。」 

比喩表現は、間接的な表現です。
なので、自分のイメージで勝手な解釈をすると、誤解の可能性が大きいです。
試験で比喩表現の内容が問われる場合、必ずその表現の前後に内容を解説している部分があります。その部分をしっかりつかみ、意味を正確にとらえましょう。

コツ8: 「繰り返し出てくる言葉はキーワード。キーワードのある文は要チェック。」 

 繰り返し出てくる言葉、それは筆者がいつも考えている言葉。
 つまり、筆者の思考の中心にあるキーワードです。
 だから、キーワードが入ったいる文章は、キーワードについての説明(=筆者の思考の説明)であったり、筆者の主張であることが多いです。
 それだけに、絶対見逃してはいけません。

コツ9: 「内容の正誤を問う問題は、不正解の誤記述部分を正確につかむ。」 

皆さんは内容の正誤を問う問題で、すぐに正解を出せますか。
1級の読解問題は、すぐに正解が出せるほど簡単ではありません。
急いで答を出しても、間違える可能性が高いです。
そんな時、逆に不正解の誤記述部分に注目しましょう。
本文の内容と違う選択肢を落としていけば、自然に正解がわかります。

コツ 10  「接続詞挿入問題は、前後の意味関係で絞り込む。」 

接続詞とは、前の文章と後の文章の意味関係(=論理的関係)を示す品詞です。
ですので、接続詞を入れる問題を解く時は、前後の文章の論理的関係を正確につかむ必要があります。
一見当たり前の方法ですが、その当たり前のことを徹底することが、この問題を解く大きなカギになります。

コツ 11  「『AではなくB』『AよりむしろB』『AよりB』『AというよりB』という表現が出たらBをチェック。」 

筆者は、自分の主張をいろいろな方法で読者に伝えようとします。
その中の一つが、この「AではなくB」「AよりむしろB」「AよりB」「AというよりB」といった表現。
つまり、Aと対比することによって、自分の主張であるBを際立たせているわけです。
ということは、Bには筆者の主張が詰まっているということ。これはもう、絶対チェックです。

コツ 12  「同じ内容の表現が繰り返し出てきたら、それは筆者の主張の核。要チェック。」 

文章の中に、時々「言葉は違うけれど、言っている内容は同じ」表現というものがあります。
筆者は、自分の主張の重要な部分はどうしても読者に理解してほしい。
だから、様々な角度から説明して、読者の理解を得ようとします。
その結果、同じ内容の事柄を、さまざまな表現を使って説明することになるのです。
つまり、それだけ非常に重要だということなのです。だから、要チェックです。

コツ 13  「グラフが出たら、まず調査目的、調査対象、XY軸の意味と単位をチェック。」 

グラフの読み取りが苦手な人のほとんどは、調査目的、調査対象、XY軸の意味と単位がわかっていません。これらをしっかり理解しないと、グラフの問題は絶対解けません。
調査目的とは、「携帯電話の所持と読書量の関係を調べる」とか、「日本の現状調査」など、何のための調査かといったことです。
調査対象とは、「一般の男女」とか「20 代から50 代までの社会人」など、調査を行った相手です。
XY軸の意味と単位とは、そのグラフの縦軸と横軸がそれぞれ何を表しているか、そしてどんな尺度(例:万人、kg 、%)で表しているか、といったことです。
これらのことをしっかり踏まえた上で、内容に合う文章を慎重に選んでいかなければなりません。

コツ 14  「答えはすべて文章の中にある。自分の価値観や勝手な考え方で答えを選ぶな。」 

受験生の解答を見てみると、問題文とは関係なく自分の価値観や勝手な思い込みで選択肢を選んでいる人が、結構います。
例えば「読書」をテーマにした読解問題があるとします。
この時、本文を読む前から「読書は、必ず最初から最後まで読まなければならない。それがいい読書だ。」と、思い込んでいる人がいます。そういう人は、必ずひっかけの選択肢を選んでしまい、点数が伸びません。
1級の読解は、あなたの価値観を測る試験ではありません。あくまでも、読解力があるかどうかを測る試験です。
答えが分からなかったら、自分勝手に考えず、必ず問題文に戻ってしっかり読み直しましょう。
答えは必ず問題文の中にあります。あなたの頭の中ではありません。


14 Mẹo đọc hiểu tiếng Nhật
Mẹo 1: [Câu hỏi hỏi về nội dung và lý do của phần được gạch dưới, sẽ có gợi ý nằm ở ngay trước hoặc sau nội dung được gạch dưới]

Rất hiếm khi phần gợi ý trả lời nằm xa phần gạch dưới. Hầu hết các trường hợp nếu đọc qua nội dung ngay trước và sau phần gạch dưới, bạn sẽ tìm được câu trả lời. Bạn hãy đọc kỹ phần nội dung ngay trước và sau phần gạch dưới xem sao nhé!
Mẹo 2: [Cần xem kỹ nội dung nếu xuất hiện dạng câu nghi vấn phủ định “Chẳng phải là…hay sao?”]

“Chẳng phải là A hay sao?” là cách diễn đạt thể hiện ý kiến của bản thân mình một cách chừng mực, có nghĩa là “Tôi nghĩ là A đấy”

Ví dụ: Anh ấy vẫn tươi cười nhưng thật sự thì chẳng phải là anh ta cũng đang rất đau khổ đấy hay sao?
→ Tôi nghĩ là anh ấy đang rất đau khổ.

Chính cách nói chừng mực ấy đã chứa đựng quan điểm, ý định thực sự của tác giả.
Tất nhiên, câu hỏi trong đề thi cũng thường liên quan đến nội dung đó.
Mẹo 3: [Nếu có xuất hiện từ nối mang nghĩa trái ngược như từ ‘tuy nhiên” thì đoạn văn ngay sau những từ này thường có nội dung rất quan trọng.]

Sao tác giả phải thay đổi cả mạch văn bằng từ “tuy nhiên” như vậy?
Nếu hỏi tại sao thì bởi vì dù có làm thay đổi mạch văn nhưng nội dung cần trình bày vẫn thể hiện ý kiến, quan điểm của tác giả.
Chình vì vậy, đoạn văn ngay sau từ “tuy nhiên” thường là nội dung chính (đáp án đấy)
Mẹo 4: [Hãy xem qua những thông tin mấu chốt (như là tiêu đề, từ vựng được chú thích bên dưới đoạn văn...) trước khi đọc. Hiểu được chủ đề đoạn văn, khả năng lý giải sẽ tốt hơn]

Khi đọc một đoạn văn nào đó thì giữa ‘đọc mà không biết chủ đề’ với ‘đọc mà biết rõ chủ đề’, cái nào sẽ dễ hiểu hơn?
Đương nhiên là ‘đọc mà biết rõ chủ đề’ sẽ dễ dàng hiểu được nội dung đoạn văn hơn rồi.
Trước khi đọc toàn bài, nếu đọc qua những thông tin mấu chốt trước sẽ hiểu được đại khái nội dung đoạn văn trước khi đọc câu hỏi.
Đọc phần mấu chốt đoạn văn chỉ khoảng 1 hoặc 2 giây thôi. Chỉ cần như thế, khả năng lý giải vấn đề sẽ được cải thiện.
Mẹo 5: [Mục đích của đọc hiểu là nắm được chính xác ý quan điểm, ý kiến của tác giả]

Mục đích đọc hiểu chính là hiểu đến cùng điều tác giả muốn nói.
Vì vậy, nhất định phải xem kỹ phần nội dung thể hiện ý kiến, quan điểm của tác giả.
Đặc biệt là đoạn văn chứa những từ như: chắc chắn là, nhất định là, chẳng phải là…hay sao, tôi cho là, tôi nghĩ rằng, không gì khác hơn là…thì thường là nội dung chính.
Mẹo 6: [Nếu đoạn văn có dạng định nghĩa (~ nghĩa là ~) thì cũng nên xem kỹ]

Định nghĩa ngôn từ thường khởi đầu để triển khai chặt chẽ những nội dung tiếp theo cũng như chính suy nghĩ của tác giả.
Cả người viết những đoạn văn như thế cũng phải chú ý kỹ đến cách định nghĩa ngôn từ.
Có cách định nghĩa theo từ điển, nhưng cũng có cách định nghĩa theo ý tác giả. Đương nhiên là cái nào cũng quan trọng cả.
Khi làm bài đọc hiểu cũng cần những gợi ý như vậy.
Mẹo 7: [Nếu có diễn đạt bằng ví dụ thì cũng nên xem qua phần giải thích nội dung đó]

Diễn đạt bằng ví dụ là cách diễn đạt gián tiếp.
Vì thế, nếu tùy tiện lý giải bằng suy nghĩ của chính mình sẽ dễ dẫn đến hiểu sai ý tác giả.
Trường hợp nội dung diễn đạt bằng ví dụ được hỏi trong đề thi, thì nhất định sẽ có phần giải thích nội dung ngay sau ví dụ đó. Chỉ cần nắm bắt phần nội dung này sẽ hiểu được chính xác ý nghĩa ví dụ được đưa ra trước đó.
Mẹo 8: [Từ được lập lại nhiều lần chính là từ khóa. Nên xem kỹ nội dung câu văn chứa từ khóa.]

“Từ” được lập lại nhiều lần chính là “từ” mà lúc nào tác giả cũng nghĩ đến.
Tức là từ khóa trong suy nghĩ của tác giả.
Chính vì thế, đoạn văn chứa từ khóa đa số là giải thích về từ khóa (giải thích suy nghĩ của tác giả), hoặc là quan điểm của tác giả.
Nên tuyệt đối không được bỏ qua những đoạn văn như thế.
Mẹo 9: [Câu hỏi dạng đúng-sai thì cần nắm bắt được phần viết sai không phải đáp án]

Các bạn khi gặp câu hỏi đúng sai thì có thể đưa ra câu trả lời ngay không?
Câu hỏi đọc hiểu của 1kyu thì không đơn giản kiểu như có thể trả lời ngay được.
Dù có vội vã đưa ra đáp án cũng rất dễ sai.
Khi đó, ngược lại nên chú ý vào phần nội dung trình bày sai không phải là đáp án.
Còn lại lựa chọn khác với nguyên văn, hiển nhiên sẽ là đáp án (phương pháp loại suy)
Mẹo 10: [Câu hỏi dạng điền liên từ thì cần tìm ra nội dung có ý nghĩa liên quan ngay phía sau]

Liên từ là từ biểu thị quan hệ ý nghĩa (quan hệ có logic) giữa đoạn văn sau với đoạn văn trước.
Vì vậy, khi làm bài đọc hiểu dạng điền liên từ, cần nắm bắt chính xác nội dung 1 cách logic của đoạn văn trước và sau.
Là phương pháp đọc lướt qua nhưng nếu làm triệt để cách này sẽ là giải quyết được dạng câu hỏi như thế này.
Mẹo 11: [Nếu gặp cách diễn đạt ‘B chứ không phải A’, ‘thà là B hơn là A’, ‘B hơn A’, ‘B đúng hơn là A’ thì nên xem kỹ B]

Tác giả đang định nhắn đến người đọc quan điểm của chính mình bằng nhiều cách.
Một trong số đó là những cách diễn đạt như: ‘B chứ không phải A’, ‘thà là B hơn là A’, ‘B hơn A’, ‘B đúng hơn là A’
Tóm lại, tùy vào cách so sánh với A sẽ làm nổi bậc B_chính là quan điểm của tác giả.
Nghĩa là, quan điểm tác giả được thể hiện hết trong B. Phần này cũng nên xem kỹ.
Mẹo 12: [Nếu lặp lại nhiều lần cách diễn đạt cùng một nội dung thì đó là trọng tâm quan điểm của tác giả. Cũng nên xem kỹ]

Trong đoạn văn cũng có khi gặp cách diễn đạt “Ngôn từ thì khác nhau nhưng nội dung tác giả đang đề cập thì giống nhau”
Cho dù thế nào thì tác giả cũng muốn người đọc hiểu được nội dung chủ yếu về quan điểm của mình
Chính vì vậy, tác giả sẽ giải thích dưới nhiều góc độ để người đọc hiểu được những gì mình muốn trình bày.
Và thế là những chuyện giống nhau sẽ được tác giả trình bày bằng nhiều cách diễn đạt khác nhau.
Tóm lại, đều là nội dung rất quan trọng. Nên phải xem kỹ.

2014/09/24

吉田さん一家の問題

三友電気の社員の吉田洋治氏は現在45才、妻の陽子さん、16才の長女のまどかさん、14才の長男の公一さんの四人家族だ。以前は典型的な会社人間だった吉田氏は一週間の労働時間が約80時間でほとんど家にいなかった。しかし、バブル経済が崩壊した後不況の波が三友電気にも押し寄せ、吉田氏も去年から残業がなくなり、5時の終業と共に退社し、6時半には家に戻って来るようになった。それで現在二つの大きな問題がある。一つは収入、もう一つは生活の変化である。

吉田氏の給料はまあまあだったが、今までは毎晩残業をして残業手当をたくさん稼いでいたので、去年約1千万円の年収があった。ところが、去年から会社が経営の合理化のために不必要な残業を禁止したので、残業手当がほとんどもらえなくなり、今年は年収が20パーセントも減ってしまった。妻の陽子さんは専業主婦で収入は全くない。何とか生活費を節約して家計が赤字にならないようにしてきたが、先月はとうとう赤字になってしまった。

もっと深刻なのは生活の変化である。吉田氏は今まで早朝出勤し深夜遅く帰る毎日で、週末も接待ゴルフなどでほとんど家にいなかった。家にいる時間が極端に少ないために一週間子供達と全く話をしない週も度々あった。しかし、去年から残業が出来なくなり夕方帰宅するようになり、週末も家にいることが多くなった。当然家族と話をする時間が増えたが、今までゆっくり話をしたことがなかったので、何について話をすればいいか、どのように話をすればいいか分からずに会話が不自然に途切れることもある。また、今まで家では食事をして寝るだけの生活を送って来たので、自分の好きなことをする時間も精神的余裕も全くなかった。家事も今まですべて奥さんがやってくれたので、吉田氏は全く出来ない。だから、家のなかで何をすればいいか分からずに困っている。この頃は休みの日に家にいても何となく落ち着かないので、130円の切符を買い、昼間ずっと電車に乗って新聞や雑誌を読むこともある。

陽子さんも、吉田氏が家にいるようになってから以前の生活と全然異なるので戸惑っている。前は7時前に吉田氏に朝食を食べさせてあげて会社に送り出せば、後は深夜帰宅するまで自分の好きなことができた。朝、家事を済ませ、午後は趣味のテニスやコーラスの練習ができた。週末も好きなテレビ番組を見たり、子供達と近くの公園を散歩したり自由にいろいろなことができた。ところが、最近は6時半になると吉田氏が帰って来るので、夕食の支度をしなくてはいけない。酒が好きな吉田氏は晩酌が長いので、その間吉田氏のそばに座っていなくてはいけない。週末も朝、昼、晩と三回きちんとした食事を作らなくてはいけないし、吉田氏がテレビの前でゴロゴロしているので、自分の好きな番組が見られないこともよくあるし、勝手に外出もできない。吉田氏の世話が増えただけでなく、自分が自由にできる時間も減ってしまった。

吉田家は年収が減り、今までの生活と全然違う生活をしなくてはいけないので、今深刻な問題に直面している。

2014/09/06

同僚の依頼を断る

2、指示・依頼の断り方 

先輩・:李さん、悪いんだけど、ちょっとこのコピーをしてもらえない?
李  :ごめん。今、急ぎの仕事を抱えてるんだ。
先輩・:あ、そう。じゃ、他の人に頼むわ。

常套表現と解説

・ すみませんが~ので・・・
 ▼ 悪いけど~んで、・・・
 ▲ 申し訳ありませんが、~ので・・・
・ すみませんが、ちょっと・・・
 ▼ 悪いけど、ちょっと・・・
 ▲ 申し訳ありませんが、ちょっと・・・
・ それは勘弁してください
  他のことならともかく、その件についてはちょっと・・・
  お気持ちはうれしいのですが、ちょっと・・・
・ 私には荷が重すぎます
  部長のご期待に添える自信がございません
  皆さんの足手まといになっては申し訳ありませんので、・・・
  会社にご迷惑を掛けることになってはいけませんから、やはりご辞退させてください

 一番難しいのが断り方でしょう。「イエス」「ノー」が鮮明な言語圏の方は直截的で、「駄目です/できません」のように、はっきり意志表示することが多いようです。ところがこの言い方は、日本人にはどきっとするほど厳しい拒絶と受け止められてしまいます。 そこで、日本人は先ず先輩や上司であれば・の▲印の「申し訳ありませんが、~」、同僚や後輩であれば▼印の「悪いけど、~」などの詫びを言って、それから断らなければならない事情を述べます。そして、日本人は最後まで「駄目です/できません」という言葉を避けて、後は察してもらう言い方をします。これが「察しの文化」と言われるものですが、「断りの言葉を使わずに断る」のが日本語の特徴です。この「断り方」を失敗すると人間関係を一瞬で壊してしまう恐れがありますから、ぜひみなさんに体得していただきたいことの一つです。
 なお、・は理由を言いたくないときの断り方ですが、社内での仕事関係の話では、事情ら理由を述べる・の言い方が適切です。・は先輩や同僚から何かを頼まれたのですが、他の仕事が重なっていてできないときの言い方です。
 ・は先輩や目上の人から個人的に何かを頼まれたときに多く使われる断りの表現です。特に「それは勘弁してください」は意味上は「許してください」と同じですが、とても困っているという感情が強く表れます。
 ・は上司から自分が自信を持てないような仕事上の指示を受けたときの断りの常套表現です。「できないことは引き受けない」というのはビジネスマンのもう一つの鉄則ですから、自分の力で無理だと思ったときははっきり断った方が後で問題が生じません。

お願い

相手側に向ける敬意の高低により、様々な表現があります。下記は例です。
敬意の度合いにより、低いほうから0、1、2、3、4、5を付しておきます。ただ、これは私見なので異論があるかもしれません。
☆『~をお願いする』⇒通常語
「~をお願いします」→1
「~をお願いいたします」→2
「~をお願い申し上げます」
「~をお願いできますか」→1
「~をお願いできますでしょうか」→3
「~をお願いできないでしょうか」→3
「~をお願いすることができますでしょうか」→4
「~をお願いすることができないでしょうか」→4
☆『~してくれ』⇒通常語
「~してください」→0
「~してくださいますか」→0
「~してくださいませんか」→1
「~してくださいませんでしょうか」→2
「~してくださることは出来ますでしょうか」→3
「~してくださる訳にはまいりませんでしょうか」→4
☆『~してもらいたい』⇒通常語
「~していただきたい」→0
「~していただけますか」→1
「~していただけませんか」→2
「~していただけますでしょうか」→2
「~していただけませんでしょうか」→3
「~していただくことはできますか」→2
「~していただくことはできますでしょうか」→4
「~していただく訳にはまいりませんでしょうか」→5
もっとありますが大体このくらいでしょう。
因みに、「いただく」は「もらう」の謙譲語です。従って、「~していただけないでしょうか。」を通常語(敬語でない言葉)にすると「~してもらえないですか」となり、こちら側から「~してもらう」ことをへりくだって依頼している表現なので間違いではありません。さらに、「~してくださいますか」より「~していただけますか」のほうが「いただく」に依頼の意があるので敬意の度合いが高いです。「くださる」は「くれる」の尊敬語であり、相手側が自発的に「何かをしてくれる」ときに使います。また、「できますか」という肯定仮定より、「できませんか」の否定仮定のほうが敬意度が高いです。

2014/08/22

You raise me up

Mỗi vết thương là đều một sự trưởng thành
Những này trời trở gió, vết thương trở nên đau nhói, đau đến mức ko hiểu vì sao nó lại đau đến vậy, vì sao, từ đâu, tại ai, sao lại là ta, bắt đầu từ khi nào... 
Rồi ta cũng trưởng thành. Trưởng thành khi nhớ về kỳ vọng người dành cho ta, ta trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Ta bỏ qua tất cả, ta bất chấp tất cả bởi ng bảo ng sẽ đợi ta phía cuối con đường. Chỉ cần ta tiến 1 bước, người sẽ tiến 99 bước còn lại.
 Trưởng thành khi nhớ đến những phút giây cô đơn mình ta, khi ta ngồi một mình trong căn phòng lạnh mong mỏi ng bước đến với vòng tay ấm áp. Người ko thể đến, còn lại ta cô độc.
Trưởng thành khi lời ký kết hẹn ước năm xưa tìm thời gian có đáp án cho t. 
Giá mà trưởng thành mà ko cần nhiều vết thương đến vậy...

2h17' AM

2014/07/03

Tenkana

やっぱり ふゆは (    )の セーターと あつい コートが ひつようです。
  • (1) うわぎ
  • (2) もめん
  • (3) け
  • (4) きぬ
  • (1) うわぎ 上着 áo khóa ngoài
  • (2) もめん cotton (ví dụ khăn tắm)
  • (3) け lông, tóc
  • (4) きぬ vải lụa
Nếu bạn tra từ セーター thì nó nói thế này: 
セーター: 毛糸などで編んだ上着 
===============================
電車賃は大人と子供____違います。
  • (1) が
  • (2) で
  • (3) と
  • (4) へ
Vì có mẫu ngữ pháp Aと Bで 何が 違う
Ở đây が được chuyển thành は nên bạn khó phân biệt.
Nếu chuyển lại câu thì: 大人と子供で 電車賃が 違います。
Vì vậy chọn で
===============================

寝るのが遅くて


1. trợ từ 「の」 thường hay được sử dụng như là 「のもの」「のこと」「の人」
「の+danh từ」「の+名詞」
2. Ở mức cơ bản, có lẽ bạn đã từng được học mẫu này. 
Quyển sách này là của ai vậy ?
この本はだれの本ですか?
Trong mẫu câu này, từ sách 本 được nhắc lại hai lần. 
Tiếng Nhật lược bỏ từ 本 thứ hai để câu ngắn hơn thành: 
この本はだれのですか?
Bạn có thể hiểu là sau の => 「のもの」ですか?
Hoặc theo chủ ngữ được nhắc trước là の => 「の本」ですか?
3. Một ví dụ khác: 
りんごよりバナナのが好き
Ở đây chủ ngữ ko xuất hiện, bạn có thể hiểu sau の là: の => 「のもの」
Vậy tương đương như câu: りんごよりバナナのものが好き
4. Một ví dụ khác: 
同じジュースなら、りんごよりバナナのが好き。
Ở đây chủ ngữ xuất hiện, ジュース nên câu trên tương đương câu: 
同じジュースなら、りんごよりバナナのジュースが好き。
5. Trở lại ví dụ của bạn, 寝るのが遅くて
Bạn có thể hiểu là: 
寝るのことが遅くて
===============================
「ぜひ」は không mang tính ép buộc, 「~してほしい」=> mong muốn 
「必ず」は sử dụng trong trường hợp ép buộc
Ví dụ; 
「ぜひ来てください」 Tôi mong muốn bạn đến bữa tiệc chẳng hạn, nhưng bạn hok đến cũng hok vấn đề gì. 
「必ず来てください」 [Bạn phải đến đấy, nếu hok đến thì sẽ hok tha thứ đâu, sẽ tức giận đấy] 
Ví dụ khác. 
Trong luật giao thông:
必ず守ってください。PHải tuân thủ luật giao thông (Ko sử dụng ぜひ) (ép buộc)
Trong công việc, bắt buộc phải hoàn thành. (ép buộc)
必ずこの仕事を終わらせる
Trong siêu thị, ở cửa hàng quần áo thời trang hay có câu chào:
ぜひご覧ください Xin quý khách hãy xem
Họ mong muốn mình xem, còn xem hay ko là do mình, ko ảnh hưởng. 

===============================

この間: 現在に近い過去の、漠然としたある時点。
このごろ: 少し前の時から現在にかけての期間。ちかごろ。最近。「―の若い者」「―よく物忘れする」
久し振り: ある事態が起こってから次に同じ事態が起こるまでの期間が長いようす。
===============================
"のに" đứng ở cuối câu có tác dụng gì vậy mọi người @@

のに mình thấy thường có 2 mẫu câu. Ví dụ:
昨日はいい天気だったのに、今日は雨が降っている。
Hôm qua trời đang đẹp, thì hôm nay trời lại mưa. 
Điều kiện trước, điều kiện sau đều nêu thực tế xảy ra. Tuy nhiên, vế sau thể hiện sự nuối tiếc, ngạc nhiên, hoặc ngoài ý nghĩ, lấy làm tiếc.
言ったら手伝ったのに。
Nếu bạn nói ra, tôi đã giúp đỡ bạn rồi 
Mẫu câu điều kiện, thực tế là nó ko xảy ra. Nếu bạn nói, tôi đã giúp bạn. Nhưng thực tế bạn đã ko nói, tôi đã ko giúp bạn, lấy làm tiếc vì điều đó.
Mẫu câu thứ 2 mình thấy hay có trong đề thi.

===============================

科学は めざましく 進歩している。
Khoa học đang tiến bộ (một cách) đáng kể. (rực rỡ, nổi bật)
携帯電話の普及率が高いのは、もはや先進国ばかりではない。
Tỷ lệ phổ cập điện thoại di động cao không chỉ có (đã xảy ra) ở những nước phát triển. 
Mình dịch zậy ^^

===============================
逆上 nói chung bạn có thể dịch là tức giận, nóng giận.

Cảm xúc hưng phấn trào dâng, nóng hết mặt, ko còn đủ tỉnh táo để phân biệt tốt xấu nữa.

===============================
Đây là một dạng mẫu câu ngữ pháp (よ)うが/(よ)うと
Dùng để biểu thị hai vế A-B có phần trái ngược nhau.
人がなんと言おうと、私は自分の子供を信じている。 

Cho dù mọi người có nói gì đi nữa, tôi tin vào con mình.


===============================
Theo tớ câu phải chia như dưới:

交通事故で  両親を亡くした子供が  かわいそうに    思えてならない。

交通事故で vì tai nạn giao thông

両親を亡くした子供が đứa trẻ mất cha mẹ

かわいそうに đáng thương, tội nghiệp

思えてならない => ~てならない cảm xúc dâng trào của người nói, thật sự, rất...

(Tôi) Thật đáng thương những đứa trẻ bi mất cha mẹ vì tai nạn giao thông :(((

2014/07/01

PHÂN BIỆT CÁCH DÙNG NHỮNG NHÓM PHÓ TỪ CẬN NGHĨA THƯỜNG DÙNG TRONG TIẾNG NHẬT HIỆN ĐẠI

I. Phó từ tiếng Nhật

1. Vai trò ca phó t tiếng Nht
Trong tiếng Nhật hiện đại, người Nhật sử dụng khá nhiều phó từ. Phó từ là những từ không mang nghĩa từ vựng như danh từ, tính từ, động từ. Hầu như chúng không có khả năng đứng độc lập làm thành phần chính của câu mà chỉ có vai trò trợ nghĩa cho động từ, tính từ, danh từ và cho cả câu.
a) Phó từ trợ nghĩa cho động từ như "dondon" "yukkuri" "tsugitsugini"…
Ví dụ :
* ゆっきり歩いても、駅まで十分ぐらいです。
Đi thong thả thì cũng khoảng 10 phút là tới ga thôi.
* あの作家は賞を取ってから、次々作品を発表しています。
Sau khi được nhận giải thưởng, nhà văn ấy đã liên tiếp cho ra các tác phẩm mới.

b) Phó từ trợ nghĩa cho tính từ như "totemo" "hijooni" "zutto"…
Ví dụ :
* あの映画は評判通り、とてもおもしろかった。
Bộ phim ấy như người ta đánh giá rất hay.
* あの先生は非常に厳しくて、学生の遅刻を絶対に許さない
Thầy giáo ấy rất nghiêm khắc, không cho phép sinh viên đi muộn.
* Các phó từ trợ nghĩa cho động từ, tính từ đều đi trực tiếp trước động từ, tính từ:      phó từ + động từ (tính từ).
c) Phó từ trợ nghĩa cho danh từ như "takusan" "hotondo" "daitai"
Ví dụ :
* スーパーにはたくさんの品物が置いてある。
Trong siêu thị người ta bày bán rất nhiều hàng.
* 私の学校では、ほとんどの先生は女性だった。
Trường tôi hầu hết giáo viên là nữ.
* Trong tiếng Nhật loại phó từ vừa là phó từ vừa là danh từ có khá nhiều như là hotondo, tabun, tokidoki, daitai, taitei v.v…Cho nên các phó từ trợ nghĩa cho danh từ cũng như danh từ trợ nghĩa cho danh từ thì không đi trực tiếp trước danh từ được mà phải có thêm trợ từ NO :  phó từ (danh từ)+ NO + danh từ.
d) Phó từ trợ nghĩa cho cả câu như "ainiku" "jitsuwa"(thường đứng ở đầu câu), "tabun…..daroo(deshoo)" "naze(dooshite)……ka" "marude…..yoo desu"(là các cặp hô ứng nên  câu thường nằm ở giữa cặp hô ứng ấy)
Ví dụ :
* あいにく、母は出かけています。
Rất tiếc là mẹ tôi đi vắng.
* 実は始めてこの話を聞いたのですが。
Thực ra đây là lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện này.

* 明日はたぶんいい天気でしょう。
Có lẽ ngày mai thời tiết tốt.
* なぜ薬を飲まなかったのですか。
Tại sao bạn không uống thuốc ?
2. Phân loi phó t tiếng Nht
a) Phân loại theo từ loại :
- Phó từ vốn dĩ là phó từ như "tsuneni" "tokidoki" "totemo"…
- Tính từ làm phó từ như "yoku" "hayaku" "kireini"(nguyên là các tính từ"yoi" "hayai" "kireina" đổi đuôi i thành ku và đuôi na thành ni).
- Động từ làm phó từ như "hajimete" "kaette" "kimatte"(nguyên là các động từ "hajimeru" "kaeru" "kimaru" đổi đuôi ở dạng "te")
- Vừa là phó từ vừa là danh từ như "hotondo" "tokidoki" "shibảaku"…
- Vừa là phó từ vừa là tính từ đuôi na như "sokkuri" "juubun" "wazuka"…
- Vừa là phó từ vừa là danh từ vừa là tính từ đuôi na như "taihen" "hijooni"…
- Vừa là phó từ vừa là động từ (nếu cộng thêm đuôi suru) như "chanto" "gakkari".
- Vừa là phó từ vừa là danh từ, tính từ đuôi na, động từ (nếu cộng thêm đuôi         suru) như "sootoo"
- Từ tượng thanh và từ tượng hình làm phó từ như "boroboro" "guruguru"         "rinrin"…
b) Phân loại theo ngữ nghĩa
Theo cuốn "Phó từ (adverbs)" - Tập sách những mẫu câu, ngữ pháp tiếng Nhật dành cho người nước ngoài của tác giả Chino Naoko, Akimoto Miharu và Sanada Kazumori, nhà xuất bản Aratake xuất bản năm 1987, có hơn 400 phó từ được phân loại theo ngữ nghĩa như sau :
- Phó từ biểu thị thời gian và tần số như "itsumo" "zutto" "tadachini"…
- Phó từ biểu thị mức độ và số lượng như "zuibun" "kiwamete" "taihen"…
- Phó từ biểu thị trạng thái con người về tính tình, thái độ, tình trạng sức khoẻ  v.v… như "sappari" "shikkari" "gasshiri"…
- Phó từ biểu thị động tác của con người như "gussuri" "suyasuya" "noronoro"…
- Phó từ biểu thị trạng thái của sự vật như "tsugitsugi" "surasura" "dondon"…
- Phó từ biểu thị sự quyết đoán (cách nói phủ định, cách nói nghi vấn-phản luận) như  "zettai" "kesshite" "zenzen" "naze" dooshite"…
- Phó từ biểu thị sự phán đoán, dự đoán, nhấn mạnh như "kanarazu" "osoraku"   "doomo" "hontooni"…
II. Phân biệt cách dùng các nhóm từ cận nghĩa
Việc nghiên cứu cách dùng các loại phó từ tiếng Nhật so sánh với tiếng Việt có lẽ phải dành riêng cho một công trình nghiên cứu quy mô hơn, bởi vì số lượng phó từ tiếng Nhật khá nhiều hơn nữa cách dùng cũng khá đa dạng. Cho nên trong bài viết này, tôi chỉ xin trình bày một số nhóm phó từ cận nghĩa (nghĩa gần giống nhau) thường dùng mà người học thường cảm thấy lúng túng khi sử dụng. Ví dụ các nhóm phó từ sau :
-  Kanarazu ,  kitto  và  zehi  đều có nghĩa là " nhất định"
- Osoraku  và  tabun…….(daroo).  đều có nghĩa là " có lẽ…"
- Takusan ,  ooini , ooku   đều có nghĩa là "nhiều"
1. Phân bit cách dùng  kanarazu, kitto, zehi
a) Kanarazu 必ず: phải…, nhất định…
Dùng trong trường hợp cần khẳng định khách quan về ý chí, nguyện vọng, nghĩa vụ. Thông thường dùng trong câu khẳng định, nếu có dùng phủ định thì cũng chỉ là trường hợp ngoại lệ ở dạng mẫu câu 「---と言えない」「---とは限らない」「---わけではない」
Ví dụ :
* 休むときは、必ず連絡してください。
Khi nào nghỉ nhất định phải báo cho tôi biết đấy nhé !
* 朝起きたときと、夜寝る前に必ず歯を磨きます。
Buổi sáng ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ bao giờ tôi cũng đánh răng.
* 宿題は 必ずしなければならない。
Dứt khoát chúng ta phải làm bài tập.
* a.「今度の日曜日に遊びに来てください。」
b.「ええ、必ず行きますよ。」
Chủ nhật này  anh đến chơi  nhé !
Vâng, nhất định tôi sẽ đến.
* 日本人のだれもが必ず漢字をたくさん知っているというわけではない。
Không phải người Nhật nào cũng nhất định biết nhiều chữ Hán đâu.
* Trường hợp phó từ dùng trong câu phủ định hay dùng zettai, zenzen...
Ví dụ :
* 絶対行きません。
Dứt khoát tôi không đi.
* 全然分かりません。
Hoàn toàn tôi không hiểu.
b) Kitto  きっと chắc là…, chắc chắn sẽ…
Dùng trong trường hợp khẳng định chủ quan  về dự đoán.
Ví dụ :
* 鈴木さんもきっと来るでしょう。
Chắc chắn anh Suzuki sẽ đến thôi.
* 雲が出てきた。今夜はきっと雨だろう。
Trời có mây. Tối nay chắc là mưa.
* がっかりしないで! 来年はきっと貿易大学には入れるよ。
Đừng nản ! Sang năm chắc chắn sẽ vào được §¹i häc Ngoại thương thôi.
* 彼女はきっとこのことを知っているにちがいない。
Chắc chắn cô ta biết việc này.
* きっと来てくださいよ。お待ちしていますから。きっとですよ。
Nhất định đến đấy nhé ! Chúng tôi chờ bạn đấy. Chắc chắn đấy nhé !
(Câu này có thể thay bằng phó từ  必ず )
* Kitto không dùng trong câu phủ định :  câu sai X  きっと来ないでください。
c) Zehi  ぜひ     nhất định, thể nào cũng phải…, rất (muốn)…
Dùng trong trường hợp khẳng định chủ quan về nguyện vọng, sự mong muốn.
Zehi thường hay được dùng kết hợp với một số mẫu câu thể hiện sự cầu khiến, sự mong muốn như  Vtekudasai, Vtehoshii, Vtai, Vruyooni…
Ví dụ :
* 貿易大学を出たらぜひ日本の会社で働きたいです。
Sau khi tốt nghiệp §¹i häc Ngoại thương, tôi rất muốn làm việc ở một công ty của Nhật.
* あの映画はとてもおもしろそうですね。次の日曜日、ぜひいっしょに見に
行きましょう。
Bộ phim ấy hình như rất hay. Chủ nhật sau nhất định chúng ta cùng nhau đi xem nhé.
* ぜひ一度遊びに来てください。
Thể nào bạn cũng phải đến chơi đấy nhé.
* 日本に行ったら、ぜひ手紙をくださいね。
Sang Nhật thể nào anh cũng phải viết thư cho em nhé !
* 友達から、引っ越したからぜひ遊びに来るようにという電話がかかってきた。
Bạn tôi gọi điện bảo thể nào cũng phải đến chơi vì bạn ấy mới chuyển  chỗ ở.
* Chú ý các phó từ trong các câu sau :  câu sai đánh dấu X, câu đúng đánh dấu O.
(1) X ぜひ話さないでください。➝ O ぜったいに話さないでください。
(2) X ぜひそこに参ります。        ➝ O  必ず そこに参ります。
(3) X    あしたはぜひ晴れてほしい.➝ O あしたは何としても晴れてほしい。

Câu (1) là câu phủ định nên phải dùng zettai.
Câu (2) là câu khẳng định khách quan về ý chí, dùng kanarazu.
Câu (3) là câu không khẳng định được hiện tượng khách quan, nên phải  dùng nantoshitemo.
2. Phân bit cách dùng  osoraku và tabun
a) osoraku  おそらく có lẽ  (dùng trong văn viết)
Dùng trong cách nói suy đoán, thường kết hợp các mẫu câu suy đoán ở cuối câu như : " …….daroo" "…….nichigainai" v.v…Tuy là cách nói suy đoán nhưng thể hiện cách suy nghĩ khá chắc chắn. Dùng trong văn viết, còn trong văn nói người ta hay dùng tabun, kitto.
Ví dụ :
* おそらく彼はそのことを知っているだろう。
Có lẽ anh ta biết chuyện ấy.
* 台風12号は、おそらく明日未明には紀伊半島南部に上陸するでしょう。
Cơn bão số 12 có lẽ sẽ đổ bộ vào miền Nam bán đảo Ki-i sáng sớm mai.
* おそらくは首相も今回の事件に関わっているだろう。
Có lẽ Thủ tướng cũng có liên quan đến vụ này.
b) tabun   たぶん    có lẽ (dùng trong văn nói)
Cách nói suy đoán thể hiện có nhiều khả năng đúng. So với "kitto" và "osoraku" thì cách nói  tabun nhẹ nhàng hơn.
Ví dụ :
* たぶん田中さんも来るでしょう。
Có lẽ anh Tanaka cũng sẽ đến.
* あしたはたぶん雨だから、きょうのうちに洗濯しておこう。
Ngày mai có lẽ mưa, nên trong ngày hôm nay phải giặt giũ.
* これでたぶん足りると思うけど、念のために、もう少し持っていこう。
Có lẽ ngần này là đủ, nhưng để cho cẩn thận ta cứ mang đi thêm ít nữa.
* A.だいじょうぶでしょうか。
Được chưa nhỉ ?
B. たぶん。
Có lẽ được.
3. Phân bit cách dùng  takusan, ooini, ooku
a) takusan  たくさん     nhiều, có nhiều
Chỉ số lượng nhiều hoặc có nghĩa là quá đủ rồi. Takusan thường đi với động từ tồn tại "aru" và các động từ khác. Đồng thời có thể đi trước danh từ kèm trợ từ
NO hoặc đi ở cuối câu làm vị ngữ.
Ví dụ :
* この問題については、たくさん研究論文がある。
Có nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề này.
* 今日はデパートでたくさん買い物をした。
Hôm nay tôi đã mua nhiều thứ ở cửa hàng Bách hoá tổng hợp.
* 日本の小説を翻訳でたくさん読みました。
Tôi đã đọc nhiều (bản dịch) tiểu thuyết của Nhật bản.
* 阪神大震災でたくさんの人が亡くなりました。
Trong trận động đất lớn Osaka- Kôbe đã cướp đi nhiều sinh mạng.
*お客さんは十人ですから、ビールは一ダースあればたくさんです。
Khách có 10 người, chuẩn bị một két bia là quá đủ rồi.
*このごろ、毎晩酒ばかり飲んでいるから、酒はもうたくさんだ。
Gần đây tối nào cũng toàn uống rượu, cho nên rượu là quá đủ rồi.
* あの人のつまらない話は もうたくさんだ。
Anh ta còn có nhiều câu chuyện nghe chán lắm.
b) ooini  大いに rất, nhiều, thật sự
Chỉ mức độ nhiều. Cách nói nhấn mạnh, không đi với động từ tồn tại "aru".
Ví dụ :
* 首相は将来の展望について、大いに語った。
Thủ tướng nói nhiều về triển vọng trong tương lai.
* 今夜のパーテイーは、親しい人ばかりですから、大いに楽しく やりましょう。
Vì bữa tiệc tối nay khách đến dự toàn là những người thân, nên phải  tæ chức cho thật vui.
* この辞書は作文を書くのに大いに役に立ちます。
Cuốn từ điển nảy rất có tác dụng để tập làm văn.
c) ooku  多く : phần nhiều, thông thường.
Ooku nguyên là tính từ "ooi" đổi đuôi i  thành ku làm phó từ, đồng thời cũng là loại tính từ đổi đuôi i thành ku làm danh từ, cho nên khi đi trước danh từ phải dùng trợ từ NO.
Ví dụ :
*  多くの中国人が留学生として日本に来ています
Nhiều người Trung quốc sang Nhật bản du học.
* ベトナムでは多くの人が朝 バイクで職場へ行きます。
Ở Việt nam buổi sáng có nhiều người đi làm bằng xe máy.
* 多くの場合は そう言わない。
Thường thì không nói như thế.
* 彼は 多くを語らない。
Ông ta không nói nhiều.
d)  oozei  大勢  đông người, nhiều người
Chỉ dùng cho người, không dùng trong các trường hợp khác. Oozei vừa là phó từ vừa là danh từ nên khi đi trước danh từ đều phải thêm trợ từ NO.
Ví dụ :
*  私は今まで大勢の人の前で話をしたことがありませんでした。
Từ trước tới nay tôi chưa nói chuyện trước đông người bao giờ.
* この日本語コースにはアジア各国からの留学生が大勢います。
Khoá tiếng Nhật này có nhiều sinh viên các nước châu Á.
* 休日には公園の近くのプールに人が大勢 泳ぎに来ます。
Ngày nghỉ có nhiều người đến bơi ở bể bơi gần công viên.
4. Phân bit cách dùng  sorosoro, moosugu, yagate
a) Sorosoro  そろそろ từ từ, chuẩn bị…
Thường hành động diễn ra nhẹ nhàng, thong thả người khác không thấy rõ.
Có thể dùng thêm trợ từ "to" thành ra là "sorosoroto". Trong tiếng Việt ít có từ tương đương.
Ví dụ :
* お風呂のお湯が熱いので、そろそろ体を沈めた。
Vì nước tắm trong bồn nóng, nên tôi đã từ từ dìm mình xuống nước.
* 骨を折った足が痛くて、そろそろとしか歩けなかった。
Vì cái chân bị gãy của tôi đau, nên tôi chỉ có thể đi bộ từ từ.
* あら、もう十時。そろそろ寝る時間だわ。
Ái chà ! đã 10 giờ. Chuẩn bị đi ngủ thôi.
b) moosugu  もうすぐ     sắp đến, tới ngay, ngay đây…
Chỉ một khoảng thời gian rất gần, không còn bao xa nữa sẽ tới.
Ví dụ :
* もうすぐクリスマスですね。
Sắp đến Nô-en rồi nhỉ .
* 次の道を曲がれば貿易大学はもうすぐです。
Rẽ con đường tiếp theo là tới ngay Đại học Ngoại thương.
* 頂上はもうすぐですから、がんばりましょう。
Đỉnh núi ngay đây rồi, cố gắng lên !
c) yagate  やがて    chả bao lâu, ít lâu sau, chả mấy chốc
Qua một thời gian nữa, trong tương lai gần sẽ diễn ra. Yagate có thể dùng cả trong quá khứ.
Ví dụ :
* 彼はやがて社長として成功する人間だ。
Chẳng bao lâu anh ta sẽ trở thành giám đốc.
*この子もやがて大学生になれば、田舎を出て行くだろう。
Đứa trẻ này chả mấy nó sẽ là sinh viên đại học rồi rời khỏi làng quê                     thôi.
* 薬を飲んだら、やがて眠ってしまった。
Uống thuốc vào, chẳng bao lâu tôi đã ngủ thiếp đi.
5. Phân bit cách dùng taihen, totemo, hijooni
a) taihen 大変    rất
Chỉ mức độ gay gắt hơn. Trong văn nói dùng"taihen" hơi khô cứng, nên người ta hay dùng  "totemo" hay "sugoku" nhiều hơn.
Ví dụ :
* あの先生には大変お世話になりました。
Tôi đã được thày giáo ấy giúp đỡ rất nhiều.
* 毎日大変暑い日が続いておりますが、お元気でいらっしゃいますか。
Thời tiết cứ nóng mãi như thế này, bác có khoẻ không ?
* 日本語は大変むずかしい。
Tiếng Nhật rất khó.
b) totemo とても rất
Chỉ mức độ gay gắt. Hay dùng trong văn nói, gần nghĩa với "taihen".
Ví dụ :
* あの映画は評判通り、とても面白かった。
Bộ phim ấy rất hay như người ta bình luận.
* 今度の新入社員はとてもよく働く。
Số nhân viên mới vào làm đợt này rất chăm chỉ.
*  私のアパートは学校から遠くて、とても不便です。
Nhà trọ của tôi xa trường nên rất bất tiện.
c) hijooni  非常に rất là
Chỉ mức độ găy gắt hơn. Lối nói hơi khô cứng.
Ví dụ :
* あの先生は非常に厳しくて、学生の遅刻を絶対に許さない。
ThÇy giáo ấy rất là nghiêm khắc, tuyệt đối không cho học sinh đi học muộn.
*このお寺は奈良時代に建てられたので、非常に貴重な建物です。
Ngôi chùa này rất là quý vì được xây dựng từ thời Nara.
* 今日は非常に寒い。
Trời hôm nay rất chi là lạnh.
6. Phân bit cách dùng  ichiban và mottomo
a) ichiban  一番     …nhất, hàng đầu, đầu tiên
Đứng đầu trong số đông, dùng nhiều trong văn nói.
Ví dụ :
* 東京に来て一番驚いたのは、人がとても多いことです。
Điều ngạc nhiên nhất khi đến Tokyo là người quá đông.
*日本が今一番しなければならないのは、市場を開放することだ。
Công việc của Nhật bản hiện nay cần phải làm đầu tiên là mở cửa thị trường.
*アジアでは日本が経済的にいちばん進んでいます。
Ở châu Á thì Nhật bản là nước phát triển nhất về kinh tế.
b) mottomo  最も     …nhất, hàng đầu
Đứng đầu trong số đông, thường dùng trong văn viết.
Ví dụ :
* 日本語の文法では「が」と「は」の使い分けが最も難しいと思います。
Tôi thấy trong ngữ pháp tiếng Nhật thì sự phân biệt giữa "wa" và "ga'là khó nhất.
* 東京は世界で最も物価が高い所だそうです。
Nghe nói Tokyo là nơi vật giá đắt nhất thế giới.
* 新宿は東京で最もにぎやかな所です。
Shinjuku là nơi nhộn nhịp nhất Tokyo.
7. Phân bit cách dùng  issoo, sarani và motto
a) issoo いっそう(一層)  hơn, hơn nữa
Cách nói thể hiện hơn mức bình thường, tình trạng gay gắt hơn trước.
Ví dụ :
*この二、三日、いっそう寒さが増している。
Hai ba ngày tới còn rét hơn.
* 新しい薬を医者に勧められて飲んだら、いっそう頭痛がひどくなった。
Theo lời bác sĩ tôi đã uống loại thuốc mới có, đầu lại đau nặng hơn.
*  このまま放置すれば、環境破壊は一層進むであろう。
Cứ bỏ mặc như thế này thì tình trạng huỷ hoại môi trường sẽ ngày càng tệ hơn.
b) sarani  更に    hơn nữa, hơn nhiều, còn…nữa, còn …hơn.
Cách nói thể hiện mức độ ngày càng tăng hơn trước. Sarani thường dùng trong văn viết hay trong cách nói lịch sự. Trong văn nói thường dùng "motto".
Ví dụ :
* 台風の影響で、今晩から風と雨が更にひどくなるでしょう。
Do ảnh hưởng của bão, từ  chiều tối nay gió và mưa sẽ còn mạnh lên.
* このままでも十分おいしいのだが、クリームを入れると、さらにおいしくなる。
Cứ như thế này cũng đã ngon lắm rồi, nhưng nếu cho thêm kem vào thì càng ngon hơn.
* 途中の小屋まで5時間、それから頂上まではさらに2時間かかった。
Đến ngôi nhà nhỏ ở lưng chừng núi mất 5 tiếng, sau đó lên đến đỉnh còn mất thêm 2 tiếng nữa.
c) motto もっと nhiều hơn nữa, hơn nữa, còn…hơn.
Chỉ các cấp độ ngày càng cao hơn. Motto thường dùng trong văn nói.
Ví dụ :
* もっと勉強しなければならない。
Chúng ta phải học nhiều hơn nữa.
* もっと販売成績を上げるには、どうしたらいいだろう。
Nên làm như thế nào để tăng mức doanh thu hơn nữa.
* 私の部屋は狭いです。デモ、タンさんの部屋はもっと狭いです。
Phòng tôi ở rất hẹp, nhưng phòng anh Tân còn hẹp hơn.
8. Phân bit cách dung  zembu và subete
a) zembu 全部       tất cả, hết, toàn bộ
Chỉ tất cả số lượng. Thường dùng trong văn nói, nếu dùng trước số từ (hoặc đi trước "ikura" để hỏi về số tiền) thì phải thêm trợ từ "de".
Ví dụ :
* 寮に住んでいる留学生は全部で9人です。
Số sinh viên nước ngoài ở ký túc xá tất cả có 9 người.
* この品物は全部でいくらですか。
Tất cả số hàng này hết bao nhiêu tiền ?
* その本はもう全部読みました。
Tôi đã đọc hết quyển sách đó.
b) subete  すべて  tÊt cả
Subete thường hay được dùng trong văn viết.
Ví dụ :
* 選択科目以外は、すべての科目の授業を受けなければなりません。
Ngoài những môn tự chọn, tất cả các môn khác đều phải lên lớp nghe giảng.
* 私たちの国の大学はすべて国立大学です。
Các trường đại học của nước chúng tôi tất cả đều là trường quốc lập.
* 外国旅行の準備はすべて完了した。
Việc chuẩn bị đi du lịch nước ngoài tất cả đã xong hết rồi.
9. Phân bit cách dùng  dooshite  và naze
a) dooshite  どうして  tại sao
Dùng trong trường hợp không hiểu rõ nguyên nhân hay cách thức.
Ví dụ :
* こんな簡単な問題なのに、彼はどうしてわからないのだろう(か)。
Vấn đề đơn giản như thế mà tại sao anh ta không hiểu nhỉ ?
* 機械のない時代に、こんな大きな石をどうして山の上まで運べたのだろうか。
Trong thời đại không có máy móc gì cả vậy mà tại sao con người có thể vận chuyển tảng đá lớn như thế lên tận đinh núi được ?
* どうして図書館の建物にはエレベーターがないのですか。
Tại sao toà nhà thư viện không có thang máy ?
b) naze  なぜ      tại sao
Dùng khi không hiểu lý do tại sao. Ý nghĩa tương đương với "dooshite", nhưng cách nói này gây cho người nghe có cảm giác khô cứng hơn cách dùng "dooshite".
Ví dụ :
* 貿易問題で、日本だけがなぜ批判されるのか。輸入国には全く問題はないのだろうか。
Trong vấn đề buôn bán quốc tế tại sao chỉ có Nhật bản bị phê phán ? Các nước nhập khẩu hoàn toàn không có vấn đề gì ư ?
* なぜ日本政府はかつての戦争を「侵略戦争」と認めないのか。
Tại sao chính phủ Nhật bản không thừa nhận cuộc chiến tranh trước                         đây là "chiến tranh xâm lược" ?
* タンさんはなぜ日本に留学したのですか。
Tại sao anh Tân lại đi du học Nhật bản ?
Tất nhiên các câu trên đây đều có thể dùng dooshite thay cho naze được.
10. Phân bit cách dùng  mattaku, zenzen và  marude
a) mattaku  全く hoàn toàn
Cách nói nhấn mạnh trường hợp khác với thông thường. Dùng mattaku thường có khuynh hướng theo ý chủ quan của người nói. Mattaku có thể dùng trong câu khẳng định và phủ định.
Ví dụ :
* この病気は現在では、全く治療の方法がない。
Căn bệnh này hiện nay hoàn toàn chưa có cách chữa trị.
* 今度の台風は、全くひどかった。
Cơn bão vừa rồi ghê gớm quá .
* マナさんは、全くほかの人の助けを借りずに、仕事をやってしまった。
Chị Mana làm việc hoàn toàn không cần đến sự giúp đỡ của người khác.
b) zenzen  全然      hoàn toàn (không)
Cách nói nhấn mạnh trường hợp khác với thông thường. Dùng zenzen chủ yếu trong câu phủ định hoặc vị ngữ của câu có nghia phủ định, đồng thời thường theo ý khách quan của người nói.
Ví dụ :
* 日本に来たころは日本語が全然分かりませんでした。
Khi đến Nhật bản tôi hoàn toàn không biết tiếng Nhật.
* ひらがなは読めますが、漢字は全然わかりません。
Chữ mềm thì còn đọc được chứ chữ Hán thì hoàn toàn chịu.
* 期末テストは、全然だめだった。
KiÓm tra cuối học kỳ tôi hoàn toàn không làm được.
c) marude まるで: hoàn toàn (như…)
Dùng marude thường đi kèm mẫu câu "…noyoona hoặc …noyooda". Có nghĩa là nêu ví dụ để thể hiện tình trạng giống nhau. Marude cũng có thể dùng như mattaku, zenzen. Nhưng dùng marude người nghe có cảm giác mềm mại hơn.
Ví dụ :
* 美しくて、まるで絵のような風景です。
Hoàn toàn đẹp như phong cảnh trong tranh.
* ランさんは歌が上手で、まるで歌手のようです。
Cô Lan hát rất hay, hoàn toàn như là một ca sĩ.
* 初めは先生が何を話しているのかまるで分かりませんでした。
Tôi hoàn toàn không biết lúc đầu thày giáo nói gì.
Như đã nói ở trên, số lượng phó từ trong tiếng Nhật có rất nhiều, nhất là những phó từ cận nghĩa. Những nhóm phó từ trong trong bài viết này là kết quả nghiên cứu bước đầu. ở đây, tôi chỉ muốn nêu 10 nhóm phó từ cận nghĩa thường dùng nhất để người học tham khảo, mong rằng vấn đề phó từ trong tiếng Nhật sẽ được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, đầy đủ hơn trong những công trình nghiên cứu sau này.
TRẦN SƠN
(TS, Đại học Ngoại thương)